image banner
Tư duy mới về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
Lượt xem: 94

Quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh trong Văn kiện Đại hội XIII là những định hướng chiến lược xác định vị trí, vai trò, mục tiêu, sức mạnh, phương thức, giải pháp thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời, là quan điểm xuyên suốt, nhất quán, có sự kế thừa từ các kỳ Đại hội trước và được Đại hội XIII bổ sung, phát triển, làm sâu sắc thêm nhiều nội dung quan trọng.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 935, Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không - Không quân_Nguồn: qdnd.vn

Trong tổng thể đường lối phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, việc tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, là “kim chỉ nam” trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tư duy về quốc phòng, an ninh, đối tác, đối tượng, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện, là nguyên nhân chủ yếu góp phần làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tạo nên vị thế, uy tín, tiềm lực, sức mạnh mới cho đất nước. Đó còn là kết quả của quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm, truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới. Mặt khác, tư duy đó hình thành trên cơ sở nhận định, đánh giá, dự báo chính xác, khách quan, khoa học sự vận động phát triển của tình hình thế giới, khu vực, trong nước; gắn bảo vệ Tổ quốc với xây dựng, đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế và phát triển đất nước.

Xuyên suốt chặng đường 35 năm đổi mới đất nước, đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc đã không ngừng được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội, kể từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986), đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XIII của Đảng đã dành nhiều tâm huyết, trí tuệ để thảo luận, thống nhất giải quyết một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc hơn, tiếp tục khẳng định rõ hơn; đồng thời, bổ sung và phát triển nhiều nội dung quan trọng, trực tiếp hoàn thiện tư duy mới về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tập trung ở những vấn đề cơ bản:

Một là, tiếp tục khẳng định rõ vị trí, vai trò trọng yếu, thường xuyên của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa quan điểm từ các kỳ Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” (1). Sự khẳng định vị trí này là định hướng chính trị đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị trong củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh theo chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Mặt khác, đó là cơ sở quan trọng để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn xã hội, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, chống phá, mưu toan hạ thấp vai trò quốc phòng, an ninh của các thế lực thù địch. Cùng với sự khẳng định đó, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” (2). Đây là căn cứ để định vị mối quan hệ và mức độ ưu tiên giải quyết đối với từng lĩnh vực. Theo đó, trong những năm tới, phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trung tâm, được ưu tiên nhưng không vì thế mà xem nhẹ nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Bởi vì củng cố quốc phòng, an ninh trực tiếp tạo lập môi trường hòa bình, ổn định chính trị, là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, kinh tế - xã hội phát triển, thế và lực của đất nước được nâng lên mới có đủ các điều kiện cần thiết để đầu tư, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh. Đây cũng chính là nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng, phát triển đất nước với bảo vệ Tổ quốc của Đảng ngày càng sâu sắc hơn, khăng khít hơn trong tiến trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam.

Hai là, mục tiêu của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được bổ sung toàn diện hơn, cụ thể hơn và sâu sắc hơn. Kế thừa tư duy của Đảng về xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc từ các kỳ Đại hội trước và xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đó là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (3). Như vậy, tư duy của Đảng về xác định nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc tiếp tục khẳng định và đặt các phương diện tự nhiên - lịch sử với chính trị - văn hóa, xã hội và lợi ích quốc gia - dân tộc, môi trường hòa bình, ổn định… trong một chỉnh thể thống nhất biện chứng, không tách rời nhau; thực hiện nội dung này là cơ sở, điều kiện, tiền đề, kết quả để thực hiện nội dung khác và ngược lại. Tuy nhiên, trong tình hình mới, nhằm ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang nổi lên ngày càng gay gắt, nhất là nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và bảo đảm xã hội ổn định, Đại hội XIII đã coi trọng và nhấn mạnh vấn đề bảo vệ an ninh, an toàn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của đất nước và trong cuộc sống của người dân. Do đó, Đại hội XIII đã bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc hơn nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, gồm cả bảo vệ “an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh”. Đây là quan điểm nhân văn, tiến bộ của Đảng, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn thời gian qua, nhất là trong ứng phó với thảm họa thiên tai, lũ lụt, phòng, chống đại dịch COVID - 19 với tinh thần “không để ai tụt lại phía sau” là những minh chứng rõ nét cho sự phát triển tư duy này.

Quân đội trao thực phẩm hỗ trợ cho người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh phòng, chống dịch COVID-19_Ảnh: vietnamnet.vn

Ba là, phương châm, phương thức bảo vệ Tổ quốc được bổ sung, phát triển hoàn thiện phù hợp với tình hình thực tiễn. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, những khó khăn, thách thức trong bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển” (4). Điều này một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam là luôn kiên định, giữ vững nguyên tắc chiến lược, không nhân nhượng, thỏa hiệp về độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc trong bất cứ điều kiện nào, hoàn cảnh nào, với bất cứ đối tượng nào. Tuy nhiên, về sách lược luôn linh hoạt, mềm dẻo, kiên trì giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bảo đảm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế; có đối sách thích ứng với từng đối tượng, từng tình huống cụ thể trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Đây là tư duy biện chứng, linh hoạt, sáng tạo và để thực hiện phương châm đó, phải kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với đấu tranh quốc phòng, an ninh ngay trong thời bình để ngăn chặn từ sớm, đẩy lùi từ xa những nhân tố có thể dẫn đến đột biến, bất lợi mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng, tạo cớ gây xung đột, chiến tranh. Theo đó, về phương thức, phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh phi vũ trang, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, toàn diện, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng ta nhấn mạnh phải coi trọng phương thức đấu tranh phi vũ trang và phát triển, hoàn thiện quan điểm “tự bảo vệ” trong điều kiện mới, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với bảo vệ Tổ quốc, lấy xây dựng để bảo vệ, bảo vệ để xây dựng, xây dựng đến đâu phải tự bảo vệ và được bảo vệ vững chắc đến đó.

Bốn là, lực lượng, sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được khẳng định toàn diện, phù hợp và được quan tâm đầu tư xây dựng vững mạnh. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế” (5). Sự phát triển tư duy về lực lượng, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trên không chỉ là sự kế thừa, phát triển truyền thống quý báu của dân tộc: luôn phát huy cao độ ý chí, lòng tự hào, tự tôn dân tộc tạo nên sức mạnh vô địch đánh đuổi ngoại xâm, mà còn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh có những diễn biến phức tạp mới; đồng thời, đó là sự cụ thể hóa quyết tâm chính trị mà Đại hội XIII của Đảng xác định là “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại” (6) để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trước hết, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định rõ cội nguồn sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc được huy động từ nguồn lực của toàn dân, được tổ chức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; xây dựng sức mạnh tổng hợp cả về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Trong đó, sức mạnh bên trong, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng; sự quản lý, điều hành có hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc; sự trung thành, vững mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân là những nhân tố quyết định. Kết hợp chặt chẽ sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo thành sức mạnh tổng hợp. Trong đó, việc khai thác nguồn lực bên ngoài và tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi để bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa rất quan trọng, đặt ra yêu cầu đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc tích cực, chủ động triển khai đường lối, chiến lược đối ngoại nhằm tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền để nhân dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ, hiểu đúng về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện cả về lực lượng, tiềm lực và thế trận trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cả ở trong và ngoài nước. Trong xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh, coi trọng xây dựng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân. Tập trung xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh vững mạnh, chú trọng các tiềm lực chính trị tinh thần, văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, luôn coi trọng quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân” (7) tạo thành sức mạnh, thực hiện “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để giữ vững và phát huy vai trò là nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,... vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ” (8). Tập trung xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội và công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Thực hiện phương hướng đó, trong công cuộc đổi mới, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đã có sự trưởng thành vững chắc, được xây dựng vững mạnh toàn diện theo đúng kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến lên hiện đại. Trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghiệp 4.0), nhiều nước trong khu vực và trên thế giới gia tăng đầu tư cho quốc phòng và những diễn biến mới của tình hình đã tạo áp lực không nhỏ đối với nước ta về tăng cường quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa quân đội, công an nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Vì vậy, Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng trên là đúng đắn, phù hợp với khả năng của nền kinh tế và trình độ khoa học - công nghệ của đất nước, vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài, vừa đáp ứng sự mong mỏi, nguyện vọng chính đáng và giải đáp những băn khoăn, vướng mắc trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an và nhân dân ta.

Cùng với xây dựng lực lượng quân đội, công an, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn nhấn mạnh: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở” (9). Đây là việc cụ thể hóa quan điểm của Đảng về sức mạnh tổng hợp và lực lượng toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc; phản ánh sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; thể hiện tư duy sáng tạo, bước đột phá của Đảng, đáp ứng yêu cầu khách quan về xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Cán bộ, chiến sĩ Tàu 792, Hải đội 511, Lữ đoàn 127 (Vùng 5, Quân chủng Hải quân) huấn luyện làm chủ vũ khí, khí tài trên tàu_Nguồn: qdnd.vn

Năm là, bổ sung, hoàn thiện hệ thống giải pháp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa theo hướng tăng tính chủ động và khả thi, không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với sự thôn tính, xâm lăng của các thế lực ngoại bang lớn mạnh. Chính vì vậy, “lo giữ nước từ khi nước chưa nguy, trị nước từ khi chưa loạn” là tư tưởng lớn và là truyền thống quý báu của dân tộc. Kế thừa kinh nghiệm, truyền thống ấy và xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển và nâng lên tầm cao mới thành kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tinh thần đó thể hiện tập trung trong hệ thống các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; luôn thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến, kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt, giữ trong ấm, ngoài êm, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” (10). Trên cơ sở đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục làm sâu sắc hơn bằng việc xác định chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố có thể gây đột biến, bất lợi; đồng thời, luôn chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống. Như vậy, đến Đại hội XIII của Đảng, tư duy chiến lược của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm nghĩa là về thời gian phải bảo vệ từ trước, chủ động phòng ngừa, tích cực chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc ngay trong thời bình, khi đất nước chưa có chiến tranh, nguy biến. Bảo vệ Tổ quốc từ xa nghĩa là về không gian phải chủ động bảo vệ từ bên ngoài biên giới lãnh thổ của đất nước. Do đó, phải không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống; giải quyết tốt những vấn đề bức xúc nảy sinh trong dư luận, củng cố sự đồng thuận xã hội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh… là những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Sáu là, phát triển, hoàn thiện lý luận, nghệ thuật, khoa học, cơ chế, chính sách, thực hiện các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống” (11). Cùng với đó, phải “xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội” (12). Đồng thời, “tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác” (13). Trong thời gian tới, cần đặc biệt coi trọng bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh. Luôn bám sát yêu cầu nhiệm vụ để tiếp tục đổi mới, phát triển tư duy phù hợp và hiệu quả hơn nhằm nâng cao hiệu quả thu hút, đào tạo nhân lực, cơ chế huy động các nguồn lực cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quán triệt và thực hiện tư duy mới của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định các giải pháp: Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc bất di, bất dịch, là cơ sở nền tảng để Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vững bản chất cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không chỉ biết đánh thắng kẻ thù trong chiến tranh xâm lược mà còn giỏi đấu tranh phi vũ trang, sắc bén trên mặt trận chính trị, tư tưởng, thực hiện tốt chức năng và “nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, công an. Hai là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; ở từng địa phương, vùng, miền, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể. Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, công chức, viên chức và cho toàn dân, phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Chú trọng giáo dục, nâng cao nhận thức thống nhất về đối tác, đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết dân tộc, vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, có chất lượng cao và luôn sẵn sàng chiến đấu thắng lợi. Thường xuyên quan tâm chăm lo, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, công an. Năm là, tích cực, chủ động nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh, nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Tăng cường hợp tác quốc phòng, quân sự với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau. Mở rộng phạm vi, quy mô tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, an ninh mạng và các hoạt động khác./.      

-----------------------

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (11), (12), (13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà nội, 2021, t. I, tr. 156, 110, 156, 156-157, 155-156, 14, 157, 157-158, 158, 159, 158-159, 160
(10) Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16-4-2018, của Bộ Chính trị, về Chiến lược quốc phòng Việt Nam

TRẦN ĐỨC TIẾN

Thượng tá, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Theo: tapchicongsan.org.vn

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 16
  • Hôm nay: 394
  • Trong tuần: 3 657
  • Trong tháng: 16 308
  • Tất cả: 120786
Đăng nhập